Tin Mới
   

Di chứng phổi sau khi khởi bệnh do SARS-CoV-2

Lao động
  
2 thg trước

Anh Dani Schuchman (25 tuổi, ở London, Anh) may mắn chỉ mất một tuần đã qua khỏi được viêm phổi do SARS-CoV-2, chỉ phải dùng máy thở không xâm lấn (máy hỗ trợ thở, không phải mở khí quản), nên mất rất ít sức. Ra viện đã 3 tuần nhưng sức khỏe vẫn chưa bình phục như cũ dù còn trẻ, trước và khi khỏi bệnh đều tích cực tập luyện. 

1. Anh cho biết, mấy ngày vừa ra viện leo cầu thang phải dừng lại để thở, vẫn còn ho nhưng số lần giảm dần. Anh nói: “Những ngày đẹp trời, tôi buồn vì không đủ sức đạp xe. Hy vọng vài tuần tới, phổi khỏe hơn, tôi có thể đi xe đạp”. Schuchman tăng cường sức khỏe bằng tập luyện hàng ngày như đi bộ khoảng 4km, giúp việc nấu nướng, làm việc nhà... Hiện các bác sĩ (BS) chưa thể biết chính xác bao lâu để bệnh nhân viêm phổi do SARS-CoV-2 phục hồi hoàn toàn, bởi đây là căn bệnh mới, còn rất nhiều điều chưa được làm rõ. Tuy nhiên, những yếu tố ảnh hưởng đến thời gian hồi phục như mức độ bệnh và lượng virus trong cơ thể; được can thiệp y tế sớm hay muộn, đầy đủ hay không; tuổi, giới tính, cân nặng và luyện tập sau khi ra viện thì đã rõ. “Một người 25 tuổi, khỏe mạnh, không mắc phải những biến cố đặc biệt như “bão” Cytokine, chỉ cần nhập viện ít ngày, đôi khi cần thở oxy không xâm lấn, sau khi về nhà vài tuần họ đã hồi phục, nhưng người đã 92 tuổi, thời gian bình phục sẽ lâu hơn nhiều. Tuy nhiên, đó chỉ là con số gần đúng, bình phục còn phụ thuộc vào nhiều điều khác” - BS Asif Munaf, ở East Midlands, Anh, nói. 

Chẳng hạn ở những bệnh nhân khó thở, suy hô hấp có bị tổn thương não do thiếu oxy không. Những bệnh nhân nặng, phải thở máy xâm lấn (phải mở khí quản) hay can thiệp EMCO (máy tim phổi nhân tạo ngoài cơ thể), thời gian nằm buồng bệnh thường đã mất hàng tháng, sau khi ra khỏi buồng chăm sóc đặc biệt. Khi phải mở khí quản đặt ống cho máy thở xâm lấn, thời gian chữa trị và phục hồi có thể tới vài tháng, vì đây là những ca bệnh nặng, ngoài phẫu thuật mở khí quản, bệnh nhân còn phải dùng lượng lớn thuốc giảm phản xạ hầu - họng, giãn cơ, giảm đau liều cao và kháng sinh chống bội nhiễm vết mổ, đường ống. “Chỉ dùng máy thở xâm lấn 48h, sẽ mất thêm hàng tháng để hồi phục” - BS Asif nói. “Khi bỏ ECMO, bệnh nhân thường phải duy trì máy thở xâm lấn một thời gian nào đó cho đến khi được rút máy thở do phổi có thể hoạt động cung cấp đủ oxy duy trì sinh tồn” - Christopher Sparkes, chuyên gia vận hành ECMO, cho biết.

Bệnh viện (BV) Princess Margeret, quận Quỳ Thanh, Hong Kong (Trung Quốc) cho hay, đã theo dõi 12 bệnh nhân xuất viện đầu tiên. BS Owen Tsang Takyin - Giám đốc y khoa, Trung tâm bệnh truyền nhiễm - nói rằng, các bệnh nhân “thở hổn hển khi bước nhanh hơn một chút”; ba người không thể làm những việc họ vẫn làm trước khi mắc bệnh. Các BS thường xuyên kiểm tra để xác định khả năng hoạt động của phổi bệnh nhân (gọi là chức năng sống, bao gồm thể tích khí trong phổi khi hít vào, thở ra và dự trữ (sau khi thở ra)), để có thể can thiệp bằng biện pháp vật lý trị liệu nhằm tăng cường chức năng phổi. Y học hiện đã biết rõ ở phổi SARS-CoV-2 gây tổn thương các tiểu phế quản, tiểu phế quản tận (tiếp giáp với các phế nang), phế nang và mô kẽ (mô giữa các phế nang); trên film X-quang hình ảnh tổn thương phổi là những đám mờ (dấu hiệu “tổn thương kính mờ”). Hiện Y học chưa điều tra được những tổn thương này tiến triển đến xơ hóa (tăng sinh tế bào xơ, giảm số lượng phế nang) phổi, gây hậu quả giảm thông khí đến mức độ nào, nặng hơn hay nhẹ hơn bệnh phổi do SARS-CoV, MERS-CoV? Nhưng với những bệnh nhân viêm phổi do SARS-CoV-2 vừa bình phục, BS Tsang nói rằng, ở những người tổn thương phổi nặng chức năng phổi giảm đi khoảng 20-30%. Ông khuyên bệnh nhân xuất viện áp dụng các bài tập cho phổi tăng cường thở đồng thời tốt cả cho tim mạch để cơ thể hồi phục từ từ.

2. Các chuyên gia chăm sóc đặc biệt Anh vừa nhận định phổi những người bình phục sau nhiễm SARS-CoV-2 có thể trở lại “như bình thường”, khắc phục được tình trạng gắng sức kém (bước nhanh thở hổn hển) sau 6 tháng, nhưng để phổi hồi phục hoàn toàn có thể phải mất 15 năm. SARS-CoV, MERS-CoV và SARS-CoV-2 đều gây ra Hội chứng suy hô hấp cấp nặng ở các mức độ khác nhau. Hội chứng suy hô hấp cấp nặng (ARDS - Acute respiratory distress syndrome, được hệ thống năm 1967, thống nhất tên gọi năm 1994) là tình trạng đe dọa tính mạng do viêm mô phổi lan tỏa. Viêm nhiễm chủ yếu các tiểu phế quản, tiểu phế quản tận, phế nang, mô kẽ dẫn đến xuất tiết dịch rỉ viêm tích tụ dịch trong các phế nang (được chứng minh bằng kết quả xét nghiệm mô phổi tử thi trên kính hiển vi), làm rối loạn trao đổi oxy và carbonic ở vách phế nang. Suy hô hấp xảy ra khi rối loạn này nghiêm trọng, cơ thể thiếu oxy và thừa carbonic, tử vong nếu không được nhanh chóng điều trị. ARDS do hàng chục nguyên nhân khác nhau nhưng hàng đầu do viêm phổi. Vấn đề là các loại mô nói trên khi bị viêm đã đông đặc (protein cấu trúc thoái hóa, biến tính) hoặc hủy hoại và không thể hồi phục lại cấu trúc mô lành. Với mọi loại mô khi đã hủy hoại, cơ thể người bao giờ cũng phản ứng bằng cách tăng sinh tế bào (TB) xơ để làm lành tổn thương (như vết sẹo da sau mụn nhọt vỡ mủ) nhưng nó không có chức năng hô hấp như TB ở vách phế nang. Vì thế, khi khỏi bệnh, đã có số phế nang nhất định mất đi vĩnh viễn làm giảm chức năng thông khí của phổi. Gần đây, nhóm nghiên cứu Đại học (ĐH) London, Anh, phát hiện mô phổi tổn thương do hút thuốc lá có khả năng hồi phục khi bỏ thuốc, thậm chí cả khi đã hút 30-40 năm. Người hút thuốc có thể có tới 90% TB phổi bị biến đổi ADN (tiền ung thư), tuy nhiên, có số ít TB không bị đột biến (chưa rõ vì sao). Khi bỏ thuốc, những TB lành này sẽ phát triển, thay thế các TB tổn thương gene và quá trình hồi phục diễn ra mạnh mẽ khắp hai phổi nếu chưa hình thành khối u. Các nhà khoa học thấy ở những người bỏ thuốc, có tới 40% TB phổi khỏe mạnh và nhiều gấp 4 lần những người đang hút. Kết quả nghiên cứu đăng tải trên Tạp chí Khoa học quốc tế Nature (xuất bản từ 1869, thuộc Tập đoàn xuất bản Nature, chi nhánh của Tập đoàn xuất bản Georg von Hontzbrinck, Anh). Tuy nhiên, sự hồi phục này chỉ xảy ra ở mô phổi có TB đột biến gene, chưa bị hủy hoại, còn với mô đã đông đặc, hủy hoại thì sẹo hóa là bất biến và y học chưa có tài liệu nói đến biến đổi mô xơ thành mô khác. Chưa rõ, các chuyên gia chăm sóc Anh dựa trên cơ sở nào để cho rằng sau 15 năm phổi sẽ hồi phục. 

3. Tháng 3, các BS BV ĐH George Washington, Mỹ đăng tải hình ảnh phổi viêm nghiêm trọng do SARS-CoV-2 ở bệnh nhân 59 tuổi. BS Keith Mortman - Trưởng khoa Phẫu thuật lồng ngực BV - cảnh báo: “Khi tình trạng viêm này giảm và nhiễm trùng được loại trừ, sẽ để lại sẹo ở phổi, thực tế này làm suy giảm khả năng hô hấp của bệnh nhân  khi khỏi bệnh”. Hai nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy, 77% bệnh nhân viêm phổi do SARS-CoV-2 nghiêm trọng (khó thở, suy hô hấp) và 95% (trong 58 bệnh nhân) không hoặc biểu hiện nhẹ triệu chứng lâm sàng có “tổn thương kính mờ” trên film CT.Scanner. “Tổn thương kính mờ” là biểu hiện thâm nhiễm: Tập trung bạch cầu viêm; mô phổi, bạch cầu và mầm bệnh hóa mủ, có màu trắng đục (khác với mô phổi lành màu đen) và khi viêm lui vùng mờ trên film “thu gọn” thành những nốt trắng - đó chính là sẹo mô phổi. Nghiên cứu khác ở Mỹ cũng thấy, “tổn thương kính mờ” khi khỏi bệnh chỉ còn lại những nốt trắng (cản quang mạnh hơn) chính là sẹo mô phổi. Lâu dài, những sẹo này tăng lắng đọng canxi. “Những thay đổi mô như thế này tạo nên tổn thương vĩnh viễn” - Ali Gholamrezanezhad, chuyên gia X-quang Trường Y Keck, ĐH Nam California, nói. “Họ hàng” của SARS-CoV-2 trước đây cũng để lại tổn thương phổi lâu dài. Nghiên cứu công bố trên Tạp chí Nature cho thấy, hơn 1/3 trong số 71 người khỏi SARS từ năm 2003 - 2018 suy giảm chức năng phổi. Theo một nghiên cứu khác, khoảng 1/3 trong số 36 người khỏi MERS có tổn thương phổi lâu dài và suy nhược, đau yếu và trầm cảm kéo dài cũng được ghi nhận.

Tuy ít nhưng di chứng tim, não, thận và đưa đến trầm cảm khi khỏi bệnh cũng được các BS ĐH Y Colorado, Mỹ và ĐH Vũ Hán xác nhận.

Xem thêm

Tin nóng hôm nay